Tôn giáo cổ xưa của Shugendo là gì?

Thần đạo và Phật giáo là những tôn giáo phổ biến nhất liên quan đến Nhật Bản, nhưng quốc gia này đã truyền cảm hứng cho nhiều thực hành tâm linh trong lịch sử lâu đời. Tìm hiểu về Shugendo, một truyền thống khổ hạnh của Nhật Bản cổ đại có nghĩa là cách thức đến sức mạnh tâm linh thông qua kỷ luật và đào tạo.

Shugendo được thành lập trong Thời kỳ Heian (794-1185 CE), thời đại mà văn học cổ điển và nghệ thuật phát triển ở Nhật Bản. Trong thời gian này, Phật giáo, một tôn giáo nước ngoài từ Trung Quốc, được chấp nhận bởi triều đình có ảnh hưởng của quốc gia, cũng như nhiều loại hình nghệ thuật vẫn được tôn sùng ở Nhật Bản và trên toàn thế giới, như haiku và tiểu thuyết. Sự xuất hiện của tôn giáo có tổ chức và xóa mù chữ đã mở đường cho Shugendo.

Shugendo là một tôn giáo đồng bộ, hợp nhất các tập quán và truyền thống hiện có. Nó được truyền cảm hứng chủ yếu bởi Phật giáo bí truyền, Đạo giáo, và các tôn giáo dân gian và tôn giáo địa phương, giống như những gì đã trở thành Thần đạo hiện đại ngày nay. Ngày nay, Shugendo được thực hành gần gũi nhất với Phật giáo và chủ yếu liên quan đến các giáo phái Tendai và Shingon.

Mặc dù hoàn cảnh chính xác của sự sáng tạo của tôn giáo vẫn chưa được biết, nhưng nó được quy cho nhà huyền môn huyền thoại En no Gyoja. Một tu sĩ khổ hạnh và bào chế, không được biết nhiều về En, ngoại trừ việc ông bị triều đình Nhật Bản trục xuất sai vào năm 699 và được cho là có sức mạnh siêu nhiên. Theo một số câu chuyện, anh đã bay tới Mt. Fuji mỗi đêm để đào tạo và thờ cúng.

Như En đã làm trong đời mình, tôn giáo Shugendo tập trung mạnh mẽ vào khổ hạnh và thờ phượng núi. Đây là những hiện diện trong Phật giáo; tuy nhiên, kể từ thời En no Gyoja, các học viên Shugendo đã đưa những thực hành này lên một cấp độ khác, thực hiện các khóa đào tạo nghiêm ngặt và tuân thủ các chế độ ăn kiêng rất nghiêm ngặt.

Những tín đồ Shugendo sùng đạo này được gọi là yamabushi, nghĩa là người Hồi giáo trên núi linh mục hay linh mục núi. Đây từng là những ẩn sĩ sống ở vùng núi và trải qua quá trình huấn luyện dữ dội. Yamabushi sẽ ngồi dưới thác nước như một cách để rèn luyện sức bền và thiền định, và họ cũng được đào tạo về võ thuật, thường chiến đấu dọc theo samurai và được biết đến như những linh mục chiến binh vĩ đại. Trong khi một số người vẫn tiếp tục sống theo cách này trong thời hiện đại, thuật ngữ yamabushi hiện đã được dùng để mô tả bất kỳ tín đồ nào của Shugendo.

Shugendo đã phát triển mạnh, mặc dù lặng lẽ, trong hàng trăm năm, nhưng sự tồn tại của nó đã bị đe dọa trong thế kỷ 19. Dưới thời đại Meiji (1868-1912), khi các cuộc cải cách nhanh chóng biến Nhật Bản từ một quốc gia phong kiến ​​nông nghiệp sang một quốc gia công nghiệp chịu ảnh hưởng của công nghệ và văn hóa ở phương Tây, nó đã bị cấm hoàn toàn vào năm 1872. Nhiều địa điểm và biểu tượng của Shugendo đã bị xóa bỏ hoặc bị phá hủy. Phật giáo không bị cấm, nhưng nó đã chính thức bị tách ra khỏi Thần đạo, điều này làm lu mờ nó như là tôn giáo chính thức của người Hồi giáo của quốc gia lúc bấy giờ. Điều này là để củng cố dòng dõi đế quốc của đất nước, nơi có nguồn gốc từ nữ thần mặt trời Shinto, Amaterasu.

Tuy nhiên, vào cuối Thế chiến II, sức mạnh thần thánh của hoàng đế được tiết lộ là bịa đặt, và vai trò đã bị giảm xuống chỉ còn là một nhân vật. Tự do tôn giáo đã được cho phép ở Nhật Bản, và việc thực hành Shugendo đã trải qua sự hồi sinh. Ngày nay, tôn giáo được thực hành bởi nhiều người, và một số địa điểm linh thiêng nhất có thể được truy cập trên đường mòn đi bộ đường dài Kumano Kodo nổi tiếng.

 

Để LạI Bình LuậN CủA BạN