10 điều cần biết về cơn sốt vàng

Victoria, trước đây gọi là quận Port Phillip, trở thành thuộc địa của Victoria vào năm 1851, cùng năm vàng được phát hiện. Lịch sử phong phú của Gold Rush đã giúp định hình nước Úc mà chúng ta biết ngày nay, tiếp tục gây ảnh hưởng. Dưới đây là 10 điều bạn cần biết đã xảy ra thông qua Gold Rush.

Người di cư đã tham gia

Hàng chục ngàn người đã đi từ Nam Úc, Tây Úc, New South Wales, vùng đất Vans Dieman và New Zealand và tham gia vào cơn sốt vàng. Tin tức về những khám phá phong phú, tại các đỉnh đào của Núi Alexandra, đã đến Anh và với sự xuất hiện của tám chiếc tàu chở đầy vàng thỏi, 'Sự điên rồ của Úc' đã được giữ vững. Đến cuối năm 1851, 30.000 người di cư chưa được đăng ký đã đến. Nhiều người là những người đàn ông trẻ độc thân, thích phiêu lưu và bị thúc đẩy bởi những câu chuyện nhặt vàng từ đường phố.

Thay đổi dân tộc

Gold Rush đã mang đến một dân số đa dạng hơn cho Victoria, mặc dù nó vẫn áp đảo so với Angelo-Celtic và Ailen. Từ châu Âu đến Ba Lan, Hungari, Đức, Scandinavi và Ý. Chủ yếu là những người đàn ông trẻ tuổi hơn, họ đã rời bỏ đất nước của mình để kiếm vàng. Người Mỹ cũng được đại diện tốt trên các lĩnh vực, mang theo những ý tưởng 'nguy hiểm' về độc lập thuộc địa của họ. Dân số Trung Quốc vào năm 1853 lên tới 2.000 người ở Victoria, vì nhiều người đã tìm đến những công việc bị bỏ hoang. Vàng cũng được phát hiện tại Maldon và Stawell vào năm 1853, mang lại nhiều người hơn nữa.

Sự tham gia của thổ dân vào cơn sốt vàng

Cho đến gần đây, Aboriginals phần lớn là vô hình trong câu chuyện về cơn sốt vàng Victoria. Nghiên cứu trong 10 năm qua cho thấy vàng mang lại những mối đe dọa và cơ hội mới cho các gia đình thổ dân còn sống sót, người vào năm 1851 chỉ có 2.000 người trên toàn thuộc địa. Những người định cư da trắng đã bỏ công việc hàng ngày của họ để đi tìm vàng, để lại một số công việc cho công nhân thổ dân. Đây là lần đầu tiên thổ dân có thể cạnh tranh bình đẳng với những người lao động da trắng. Người thổ dân bị thu hút vào các bãi vàng, vì các bãi vàng nằm trên đất của gia tộc và mang đến cơ hội trao đổi và trao đổi.

Các tiện ích của Melbourne trong suốt Gold Rush

Với sự gia tăng dân số, Melbourne thiếu rất nhiều nguồn lực, khiến nó trở thành một nơi rất khó sống. Những năm từ 1852 đến 1854 thường được gọi là 'năm khủng hoảng'. Có một sự thiếu hụt tuyệt vọng cho chỗ ở, và tàu từ nước ngoài phải mang theo thực phẩm, đồ uống, vật liệu xây dựng và nhiều vật tư khác để giữ cho dân số ngày càng thoải mái. Nhà sử học Graeme Davison đã so sánh Melbourne năm 1852 với các thành phố thuộc Thế giới thứ ba ngày nay như Jakarta hay Quito. Cũng có sự gia tăng các bệnh, khiến nhiều người chết từ năm 1851 đến 1854, đặc biệt là trẻ nhỏ.

Thay đổi cơ sở hạ tầng cho đến hết Gold Rush

Cơn sốt vàng của Úc có rất nhiều ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng của Úc và các tòa nhà lịch sử vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Melbourne bẩn thỉu, nguy hiểm và quá đông đúc đã trở thành thủ đô của một trong những thuộc địa giàu có nhất thế giới. Trong thập kỷ của cơn sốt vàng, các thợ đào, và sau đó là công ty khai thác, đã sản xuất một phần ba sản lượng vàng của thế giới. Úc giao dịch vàng cho các nguồn cung của Anh và vào đầu những năm 1850, Úc đã tiêu thụ 15% hàng xuất khẩu của Anh. Bạn vẫn có thể thấy hầu hết sự tự tin của người dân Victoria thông qua các tòa nhà và thị trấn đào vàng. Cơ sở hạ tầng của thành phố đang được hiện đại hóa - các con đường đã được đặt, những cây cầu thép bắc qua máng xối sâu, đường sắt được xây dựng và hồ chứa Yan Yean được mở để cung cấp nước sạch cho thành phố. Tất cả những kỳ quan cơ sở hạ tầng quan trọng này đã chứng minh rằng Melbourne đang biến thành một thành phố văn minh.

Phát triển bên ngoài thành phố

Trong khi Melbourne phát triển, dân số của nó đã giảm từ 38% vào năm 1851 xuống còn 23% vào năm 1861. Hầu hết mọi người ở Victoria sống trên các bãi vàng; một phần ba vẫn sống trong lều. Đô thị hóa cũng quan trọng như các kết quả khác của cơn sốt vàng. Ballarat, Bendigo, Beechworth, Castlemaine, Heathcote, Stawell, MediaWiki và Maryborough đều là những thị trấn trong khu vực phát triển từ những mảnh vụn đầu tiên trên mặt đất và những con lạch vàng. Các đường phố chính của những thị trấn này vẫn chứng kiến ​​'thời hoàng kim' của họ với những tòa nhà trang trí công phu, một minh chứng cho sự giàu có và tự tin mà những thị trấn này từng có.

Sự thay đổi môi trường do cơn sốt vàng

Tác động của cơn sốt vàng đối với môi trường gần như hoàn toàn phá hủy. Hình ảnh về các bãi vàng được chụp vào cuối những năm 1850 cho thấy những ngọn đồi không xác định, những đống chất thải khai thác và bùn và bụi, giống như chiến trường của Thế chiến thứ nhất. Không có thảm thực vật hoặc cây xanh nào được nhìn thấy. Phá rừng, ô nhiễm, xói mòn và phù sa đi kèm với cơn sốt vàng, và cho đến ngày nay, vẫn có một số cảnh quan chưa được phục hồi do bị tấn công.

Cuộc sống của thợ đào

Cuộc sống trên các cánh đồng cho các thợ đào rất khó khăn về thể chất: các thợ đào làm việc từ sáng đến tối sáu ngày một tuần. Vào mùa hè, họ chiến đấu với nhiệt độ, bụi và khát; vào mùa đông, họ làm việc trong bùn, nhiệt độ lạnh và nước. Nơi trú ẩn bao gồm lều, thức ăn đắt tiền, nước sạch và nhiên liệu rất khó tìm, và thương tích và bệnh tật là mối đe dọa thường trực. Không có gì đảm bảo tìm thấy vàng, vì vậy hầu hết tìm kiếm việc làm thường xuyên. Tuy nhiên, có những câu chuyện về những chàng trai trẻ thuộc tầng lớp thấp hơn tìm thấy may mắn giữa các bãi vàng, dẫn đến nỗi sợ hãi và nhầm lẫn phá vỡ các tiêu chuẩn và mệnh lệnh xã hội.

Vàng và 'Cảnh sát của Chúa'

Các mỏ vàng thường được mô tả là một xã hội nam tính. Vào năm 1853, người ta ước tính rằng tổng dân số của các mỏ vàng là 46.550 nam và 10.740 nữ, và trong suốt thập kỷ này có những lo ngại về tỷ lệ giới tính không đồng đều. Tuy nhiên, phụ nữ đã làm việc và sống trên các mỏ vàng một cách độc lập hoặc với tư cách là vợ, mẹ, chị gái và con gái. Họ cũng theo đuổi một loạt các nghề nghiệp như giảng dạy và trở thành y tá. Vào thế kỷ XIX, phụ nữ được coi là người có ảnh hưởng văn minh đối với đàn ông, cung cấp những ngôi nhà ổn định và hạnh phúc và kiềm chế hành vi tiêu cực của đàn ông. Phụ nữ được coi là 'Cảnh sát của Chúa', người sẽ văn minh hóa những người đàn ông độc thân và tạo ra các gia đình Kitô giáo.

Khu phố cổ

Eureka Stockade có thể là một trong những sự kiện nổi tiếng nhất từ ​​những năm 1850 và là sự kiện có liên quan chặt chẽ nhất với cơn sốt vàng. Các thợ đào tại Ballarat đã phản đối thuế chính phủ, được gọi là giấy phép của thợ mỏ - mọi người khai thác phải trả nó, bất kể thành công của họ trên lĩnh vực này. Các kiến ​​nghị, biểu tình và thư ít có tác động đến Thống đốc Hotham, và một nhóm nhỏ các thành viên đã cầm vũ khí. Cuộc nổi dậy đã thấy, trên các bãi vàng Ballarat, 30 thợ đào và năm binh sĩ thiệt mạng. Tác động của Eureka đối với tiến bộ chính trị của Úc vẫn còn được tranh luận ngày hôm nay. Một số người nói rằng cuộc nổi loạn chỉ đơn giản là thúc đẩy các quá trình dân chủ đã diễn ra; những người khác coi đó là một khoảnh khắc quan trọng trong lịch sử dân chủ của Úc.

 

Để LạI Bình LuậN CủA BạN